Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

ROBOT KHẮC PHỤC THIÊN TAI

Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng đến một ngày nào đó, các con biobot này có thể được sử dụng trong các tình huống khắc phục thiên tai để xác định ví trí những nạn nhân còn sống sót.
Một nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Bắc Carolina (Mỹ) đã chế tạo ra những chú gián người máy mang biệt danh "biobot". Chúng được trang bị các microphone để nhận âm thanh và lần theo đó di chuyển đến nguồn phát ra âm thanh.


Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng đến một ngày nào đó, các con biobot này có thể được sử dụng trong các tình huống khắc phục thiên tai để xác định ví trí những nạn nhân còn sống sót.

Mỗi một con gián rôbôt này có gắn một tấm bảng mạch nhỏ giống như chiếc balô trên lưng, qua đó các nhà nghiên cứu có thể sử dụng để điều khiển sự di chuyển của chúng.

Một số con biobot chỉ gắn một microphone có thể cảm nhận âm thanh tại hiện trường xảy ra thảm họa và gửi chúng về cho các nhân viên. Một số khác được gắn cả một dàn micrô để có thể xác định nơi phát ra âm thanh và sau đó điều hướng để con bọ tiến về hướng đó.

"Mục đích sử dụng các biobot có gắn các micrô độ phân giải cao là để phân biệt giữa các âm thanh quan trọng - như tiếng người kêu cứu - với các âm thanh không quan trọng như một đường ống bị rò rỉ chẳng hạn", Alder Bozkurt phụ trách dự án, giáo sư kỹ thuật điện và máy tính thuộc Đại học bang North Carolina cho biết. 

Một khi chúng ta xác định được các âm thanh quan trọng, chúng ta có thể sử dụng các biobot được trang bị dàn micrôphone để tiến đến những nơi phát ra âm thanh.
Theo nguồn: moitruong.com.vn

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

VAI TRÒ CỦA VI SINH VẬT TRONG SỰ TỰ LÀM SẠCH CỦA NƯỚC

Trước khi đề cập đến các biện pháp tích cực của con người nhằm xử lý ô nhiễm môi trường nước, chúng ta cần xem xét một hiện tượng rất đáng được quan tâm trong tự nhiên. Đó là quá trình tự làm sạch các nguồn nước do các yếu tố sinh học mà trong đó vi sinh vật đóng một vai trò rất quan trọng.

Các ao hồ, dòng sông cũng như một số vùng bờ biển luôn bị làm bẩn với các mức độ khác nhau do rác và nước thải của con người. Việc làm sạch các nguồn nước này có một ý nghĩa rất to lớn. Nhờ các quá trình này, các chất bẩn thường xuyên loại khỏi môi trường nước. Ta sẽ xem xét quá trình tự làm sạch các nguồn nước xảy ra như thế nào.
Ở đây các quá trình vật lý, hoá học như các hiện tượng sa lắng và oxy hoá giữ một vai trò quan trọng, song đóng vai trò quyết định vẫn là các quá trình sinh học. Tham gia vào các quá trình tự làm sạch này có rất nhiều loại sinh vật, từ các loại cá, chim đến nguyên sinh động vật và vi sinh vật.
Bên cạnh vai trò tích cực của các nhóm vi khuẩn, nấm mốc, trong nước thải còn có các loại tảo cũng đóng góp một phần quan trọng trong quá trình chuyển hoá các chất gây ô nhiễm môi trường khác. Trong nước thải, thông qua hoạt động sống của mình tảo cung cấp oxygen cho môi trường. Chúng còn tiết vào môi trường các chất kháng sinh, những chất này là vũ khí lợi hại diệt các mầm bệnh trong nước thải (đặc biệt là khu hệ vi sinh vật gây bệnh đường ruột).


Đối với các vi sinh vật gây bệnh, tảo còn gây cản trở sự phát triển của chúng bằng cách gây kiềm hoá môi trường sống của một số vi khuẩn, cạnh tranh nguồn thức ăn đối với các nhóm vi khuẩn này. Ngoài ra tảo còn tiết một số chất có hoạt tính sinh học, giúp kích thích sự phát triển của một số vi sinh vật có lợi trong môi trường nước thải. Một đóng góp không thể không nhắc tới của tảo là một số trong chúng có khả năng hấp thụ mạnh các kim loại nặng (chì, cadimi ...) và các tia phóng xạ.
Thông thường, protein, đường và tinh bột được phân giải nhanh nhất. Cellulose, lignin, mở, sáp bị phân giải chậm hơn nhiều, và sự phân giải xảy ra không hoàn toàn. Do vậy quần thể vi sinh vật cũng thay đổi tuỳ theo tiến độ của sự tự làm sạch và thành phần của chất thải có trong nước thải.
Trong thực tế cho thấy lực tự làm sạch các nguồn nước luôn thay đổi và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố sau làm ví dụ :
- Lực tự làm sạch đạt trị số cực đại ở những vùng nước có sự chuyển động mạnh, tạo dòng chảy, làm chia đều nước thải và giúp trao đổi khí giữa nước và không khí xảy ra mạnh. 
- Lực tự làm sạch cũng thay đổi theo mùa. Ở những nước có mùa hè, đông cách biệt về nhiệt độ rõ rệt thì lực tự làm sạch ở mùa hè lớn hơn ở mùa đông. Điều này xảy ra do hai nguyên nhân: vào mùa hè, nhiệt độ cao, có ánh nắng chiếu nhiều sẽ kích thích vi khuẩn phát triển nhanh và các thực vật nổi sẽ cung cấp thêm nhiều oxygen cho nước.
- Khi nói đến ảnh hưởng của yếu tố khí hậu, người ta cũng nhận thấy ở vùng nhiệt đới quá trình tự làm sạch xảy ra nhanh hơn nhiều so với vùng ôn đới ...
Quá trình tự làm sạch các nguồn nước gây ra do các tác nhân sinh học là một hiện tượng rất quý trong tự nhiên. Hiểu và nắm được quy luật hoạt động của nó, con người đã lợi dụng nó để làm sạch các nguồn nước thải có độ ô nhiễm vừa phải hoặc nước thải qua xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo.

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

CHỈ THỊ VI SINH VẬT TRONG NƯỚC THẢI

Nước thải có nhiều nguồn gốc phát sinh, được thải ra từ sinh hoạt của con người hay trong quá trình sản xuất, công nghiệp. 

Trong nhiều trường hợp, mỗi loại nước thải có một khu hệ vi sinh vật đặc trưng. Nước thải sinh hoạt chứa phân, nước rửa, tắm giặt, thức ăn thừa ... chứa rất nhiều vi khuẩn , trung bình từ vài triệu đến vài chục triệu cá thể trong 1ml. Trong đó chủ yếu là:

- Vi khuẩn gây thối như Pseudomonas fluorescens, P. aeruginosa, Proteur vulgaris, Bac.cereur, Bac.subtilis, Enterobacter cloacae ...

                       

- Đại diện của các nhóm khác như vi khuẩn phân giải đường, tinh bột, cellulose, urea...

- Các vi khuẩn thuộc nhóm Corliform, là vi sinh vật chỉ thị cho mức độ ô nhiễm phân trong nước ở mức độ cao, có thể dao động từ vài nghìn đến vài trăm nghìn cá thể trong 1ml nước thải.

- Một đại diện khác là vi khuẩn Sphaerotilus natans, thường hay bị nhầm là "nấm nước thải", thường được thấy có trong nước thải của các nhà máy cellulose và thực phẩm. Chỉ thị cho nước thải giàu oxygen, khi nó phát triển mạnh mẽ sẽ dẫn đến thiếu oxy trầm trọng.

- Bên cạnh vi khuẩn, trong nước thải giàu chất hữu cơ cũng có chứa nhiều loại nấm men. Có thể dao động từ vài ngàn đến vài chục ngàn tế bào nấm men trong 1ml. Phổ biến nhất là đại diện của Saccharomyces, kế là Candida, Cryptococcus, Rhodotorula.

                         

- Trong nước thải sinh hoạt cũng chứa nhiều bào tử cà sợi nấm mốc. Nấm mốc tiêu biểu là Leptomitus lacteus, Fusarium aquaeducteum.

- Một số nước thải cũng phát hiện nhiều vi khuẩn phản nitrat hoá như Thiobacillus denitrificans, Micrococcus denitrificans; vi khuẩn sinh methane (CH4) ...

- Trong nước thải chứa dầu, người ta cũng tìm thấy các vi khuẩn phân giải hydrocarbon như Pseudomonas, Nocardia ...
- Trong nước thải có thể còn có một tập hợp khá đông đúc các loài tảo (Alage), gồm khoảng 15.000 loài. Chúng thuộc Tảo silic(Bacillariophyta), Tảo lục (Chlorophyta), Tảo giáp (Pyrrophyta)...

PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI

Để bảo vệ môi trường tránh phải chịu những tác động từ các hoạt động sản xuất của con người thì xử lý nước thải là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư hiện nay bên cạnh việc quản lý và xử lý rác thảikhí thải.
Do nước thải có nguồn gốc từ nhiều lĩnh vực khác nhau, mang nhiều tính chất và các thành phần khác nhau đặc trưng cho từng ngành sản xuất mà dựa vào đó người ta đưa ra biện pháp xử lý phù hợp và hiệu quả hơn.


Hiện nay các công nghệ xử lý nước thải luôn được cải tiến và phát triển, đáp ứng được nhu cầu xử lý hiệu quả và tiết kiệm chi phí xây dựng, lắp đặt cũng như chi phí vận hành. Tuy nhiên về cơ bản thì xử lý nước thải chủ yếu dựa vào các phương pháp sau:

- Phương pháp cơ học
- Phương pháp hóa học và hoa lý
- Phương pháp sinh học

1. Phương pháp cơ học

Trong nước thải thường chứa các chất không tan ở dạng lơ lửng. Để tách các chất này ra khỏi nước thải ta thường sử dụng các phương pháp cơ học như lọc qua song chắn rác hoặc lưới chắn rác, lắng dưới tác dụng của trọng lực hoặc lực li tâm và lọc. Tùy theo kích thước, tính chất lý hóa, nồng độ chất lơ lửng, lưu lượng nước thải và mức độ cần làm sạch mà lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp.


2. Phương pháp hóa học và hóa lý

Đây là phương pháp xử lý thường xảy ra trong quá trình keo tụ tạo bông của hệ thống xử lý. Ở đây nước thải sẽ được loại bỏ những chất rắn lơ lửng, những hạt phân tán trong nước hay các chất vô cơ ở dạng hòa tan. Các hóa chất được bổ sung vào là các polyme, PAC, phèn và chất điều chỉnh pH kết hợp với khuấy trộn để quá trình keo tụ tạo bông xảy ra nhanh hơn, hiệu quả xử lý tăng cao hơn.



3. Phương pháp sinh học

Phương pháp sinh học được ứng dụng để xử lý các chất hữu cơ hòa tan có trong nước thải cũng như một số chất vô cơ như H2S, Sunfit, ammonia, Nito… dựa trên cơ sở hoạt động của vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm. Vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số khoáng chất để làm thức ăn. Một cách tổng quát, phương pháp xử lý sinh học có thể phân thành 2 loại:

- Phương pháp kị khí sử dụng nhóm vi sinh vật kị khí, hoạt động trong điều kiện không có oxy.
- Phương pháp hiếu khí sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục.
Quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Để thực hiện quá trình này, các chất hữu cơ hòa tan, cả chất keo và chất phân tán nhỏ trong nước thải cần di chuyển vào bên trong tế bào vi sinh vật theo 3 giai đoạn chính như sau:
– Chuyển các chất ô nhiễm từ pha lỏng đến bề mặt tế bào vi sinh vật.
– Khuếch tán từ bề mặt tế bào qua màng bán thấm do sự chênh lệch nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào.
– Chuyển hóa các chất trong tế bào vi sinh vật, sản sinh năng lượng và tổng hợp tế bào mới.
Tốc độ quá trình oxy hóa sinh hóa phụ thuộc vào nồng độ chất hữu cơ, hàm lượng các tạp chất và mức độ ổn định của lưu lượng nước thải vào hệ thống xử lý. Ở mỗi điều kiện xử lý nhất định, các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng sinh hoá là chế độ thủy động, hàm lượng oxy trong nước thải, nhiệt độ, pH, dinh dưỡng và các yếu tố vi lượng.
Với những phương pháp xử lý trên nước thải được xử lý triệt để, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng xả thải, giảm thiểu được những rủi ro gây ô nhiễm môi trường.

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

LÒ ĐỐT CHẤT THẢI RẮN NGUY HẠI

Chất thải rắn nguy hại là một trong những thành phần chất thải rắn đô thị, chúng được thải ra chủ yếu từ các trung tâm y tế, bệnh viện, các nhà máy, xí nghiệp sản xuất hóa chất, xi mạ...vì mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của chất thải rắn nguy hại đến con người và môi trường nên chúng được thu gom theo một phương thức riêng và phương pháp xử lý phù hợp.
Đa phần các loại chất thải rắn thường được mang đi đến bãi chôn lấp, nhưng đối với chất thải rắn nguy hại chúng không chỉ được mang đi chôn lấp mà còn sử dụng biện pháp đốt, nhất là đối với chất thải y tế. Phương pháp đốt cháy chất thải rắn cho khả năng xử lý triệt để hơn đối với chất thải nguy hại và tiết kiệm diện tích chôn lấp.
Lò đốt chất thải rắn nguy hại cần phải phù hợp với TCVN và Quy chế quản lý chất thải nguy hại do Bộ KHCN&MT (trước đây) ban hành. Công nghệ, thiết bị chính phải hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam, thao tác vận hành dễ dàng, nhiên liệu đốt bổ sung thông dụng.
Công suất đáp ứng phần lớn nhu cầu xử lý chất thải rắn được thải ra tứ các doanh nghiệp, khu đô thị…. Phù hợp với đặc điểm chất cùa từng loại chất thải rắn để mang lại hiệu quả cao nhất.

lò-đốt-chất-thãi-rắn-nguy-hại
  1. Nguyên lý hoạt động.
Lò đốt CN150 sử dụng buồng đốt đa vùng và có lắp đặt đầu đốt, các quá trình cháy cốc và các khí xảy ra riêng biệt theo cả không gian và thời gian, vì thế có thể kiểm soát và tối ưu hóa quá trình cháy ở mỗi vùng, nhờ đó quá trình cháy ổn định, mặc dù các thành phần của chất thải đưa vào thay đổi, đồng thời nồng độ các khí độc hại có trong khói thải ít.
  1. Các giai đoạn xảy ra trong quá trình đốt.
Sấy khô – bốc chất bốc – cháy chất bốc – cháy cốc – cháy cốc – cháy kiệt tro xỉ – thải tro xỉ
Khi bắt đầu vận hành, 2 đầu đốt ở buồng đốt thứ cấp hoạt động, nâng nhiệt độ trong buồng đốt đến nhiệt độ cần thiết khoảng từ 500- 80000C, đầu đốt ở buồng đốt sơ cấp sẽ bắt đầu hoạt động. Chất thải rắn nguy hại được đưa vào buồng đốt sơ cấp qua cửa nạp và được đẩy vào đáy buồng đốt có nhiệt độ cao nhờ hệ thống thủy lực. Lượng không khí cần thiết cấp cho quá trình cháy sẽ được kiểm soát và điều chỉnh thổi vào thông qua van gió. Khói trong buồng đốt sơ cấp được vẫn vào đốt ở vùng nhiệt độ 9500C đến 10500C trong buồng đốt thứ cấp. nhiệt độ buồng sơ cấp và thứ cấp được diều khiển tự động hoặc theo chế độ được cài đặc trước của người vận hành.
Trong quá trình đốt, hệ thống xử lý khói thải luôn hoạt động tạo áp suất âm thích hợp cho hai buồng đốt cho khói thải ra thuận lợi. ngoài ra còn lấp đặt hệ thống cấp gió bổ sung cho hai buồng đốt, nhờ đó sẽ tiết kiệm nhiên liệu. khói thải từ buồng đốt thứ cấp đi qua hệ thống xử lý khói thải rồi ào ống khói thoát ra ngoài.
Quá trình đốt cháy chất thải rắn công nghiệp nguy hại xảy ra trong buồng đốt rất phức tạp và nhiệt độ cháy cao, thành phần và độ ẩm chất thải rắn công nghiệp nguy hại đưa vào lò đốt không ổn định, áp suất khói thải trong buồng đốt thay đổi…

KẾT HỢP XỬ LÝ NITO HIỆU QUẢ

Biết được tầm quan trọng của việc xử lý nito trong nước thải là một diều cần thiết, nhằm làm tăng chất lượng nguồn nước thải, giảm thiểu mọi rủi ro, tác hại, ảnh hưởng của nito lên môi trường nước cũng như đảm bảo được hiệu quả xử lý cho cả hệ thống xử lý nước thải. 
Thì ngoài công trình xử lý nito còn có thể kết hợp với một vài công trình xử lý khác như:

- Công trình kết hợp xử lý BOD/N


+ Kênh ôxy hoá tuần hoàn

                          


Kênh ôxy hoá tuần hoàn hoạt động theo nguyên lý thổi khí bùn hoạt tính kéo dài. Quá trình thổi khí đảm bảo cho việc khử BOD và ổn định bùn nhờ hô hấp nội bào. Vì vậy bùn hoạt tính dư ít gây hôi thối và khối lượng giảm đáng kể.
Các chất hữu cơ trong công trình hầu như được ôxy hoá hoàn toàn, hiệu quả khử BOD đạt 8595%. Trong vùng hiếu khí diễn ra quá trình ôxy hoá hiếu khí các chất hữu cơ và nitrat hoá. Trong vùng thiếu khí (hàm lượng ôxy hoà tan thường dưới 0,5 mg/l) diễn ra quá trình hô hấp kỵ khí và khử nitrat.
Để khử N trong nước thải, người ta thường tạo điều kiện cho quá trình khử nitrat diễn ra trong công trình. Kênh ôxy hoá tuần hoàn hoạt động theo nguyên tắc của aerôten đẩy và các guồng quay được bố trí theo một chiều dài nhất định nên dễ tạo cho nó được các vùng hiếu khí (aerobic) và thiếu khí (anoxic) luân phiên thay đôỉ. Quá trình nitrat hoá và khử nitrat cũng được tuần tự thực hiện trong các vùng này Hiệu quả khử nitơ trong kênh ôxy hoá tuần hoàn có thể đạt từ 40–>80%


+Aerôten hoạt động gián đoạn theo mẻ (hệ SBR)

                               


Các giai đoạn hoạt động diễn ra trong một ngăn bao gồm: làm đầy nước thải, thổi khí, để lắng tĩnh, xả n-ước thải và xả bùn dư.

- Xử lý kết hợp nitơ và phốt pho

Phốt pho xâm nhập vào nước có nguồn gốc từ nước thải đô thị, phân hoá học, cuốn trôi từ đất, nước mưa hoặc phốt pho trầm tích hoà tan trở lại. Ngoài việc nito gây hiện tượng phú dưỡng trong nước thì phốt pho là nguyên nhân chính gây ra bùng nổ tảo ở một số nguồn nước mặt , gây ra hiện tượng tái nhiễm bẩn và nước có màu, mùi khó chịu.

Vì vậy mà người ta thường kết hợp xử lý nito và photpho cùng nhau, đặt biệt là bằng phương pháp sinh học
Bằng cách sử dụng bùn hoạt tính, các hợp chất trong các quá trình xử lý thiếu khí (anoxic), xử lý hiếu khí (aerobic), xử lý yếm khí (anaerobic) kết hợp hoặc riêng biệt để thực hiện quá trình khử nitơ và photpho. Ban đầu quá trình này được phát triển để khử Photpho, sau đó là kết hợp khử cả nitơ và photpho.
Các công nghệ được sử dụng thông dụng nhất là:
– Quy trình A2/O
– Quy trình Bardenpho (5 bước)
– Quy trình UCT
– Quy trình VIP
* Kỹ thuật xử lý mẻ kế tiếp cũng có khả năng kết hợp khử Nitơ và Phốtpho


Quy trình A2/O


Quy trình này được cải tiến từ quy trình A/O và bổ sung thêm vùng cấp oxi để khử nitrat. Giai đoạn lưu trong quá trình thiếu khí xấp xỉ một giờ. Tại vùng anoxic (thiếu oxy), vi sinh vật lấy oxi từ nitrat (NO3-) và nitrit (NO22-), lượng nitrat và nitrit được bổ sung bởi hỗn hợp nước thải tuần hoàn từ sau vùng aerobic. Hàm lượng phótpho tập trung trong nước nước thải nhỏ hơn 2mg/l là có thể chấp nhận được với nước thải không có công đoạn lọc, và nhỏ hơn 1.5mg/l với nước thải sau lọc.


Quy trình Bardenpho (5 giai đoạn)


Từ bể Bardenpho 4 giai đoạn để xử lý Nitơ, bổ sung thêm 1 giai đoạn để kết hợp khử cả nitơ và photpho. Thêm giai đoạn thứ 5 là quá trình yếm khí anarobic để khử photpho lên đầu tiên của quy trình kết hợp khử nitơ, photpho. Sự sắp xếp các giai đoạn và cách tuần hoàn hỗn hợp nước thải sau các vùng cũng khác nhau và khác quy trình xử lý A2/O. Hệ thống 5 bước cung cấp các vùng anaerobic, anoxic, aerobic để khử cả Nitơ, Photpho và hợp chất hữu cơ. Vùng Anoxic (giai đoạn 2) để khử nitrat và được bổ sung nitrat từ bể aerobic (giai đoạn 3). Bể aerobic cuối cùng tách khí N2 ra khỏi nước và giảm hàm lượng Photpho xuống tối đa. Thời gian xử lý kéo dài hơn quy trình A2/O. Tổng thời gian lưu nước là 10-40ngày, tăng sinh khối của vi sinh vật


Quy trình UCT


Được sáng tạo tại trượng đại học Cape Town, giống quy trinh A2/O nhưng có 2 sự khác biệt. Thứ nhất, bùn hoạt tính được tuần hoàn đến bể Anoxic thay vì bể anaerobic. Thứ hai, xuất hiện vòng tuần hoàn từ bể anoxic đến anaerobic. Bùn hoạt tính đến bể anoxic, hàm lượng nitrat trong bể anaerobic sẽ bị loại bỏ, theo đó ta tách được photpho trong bể anaerobic. Bản chất của vòng tuần hoàn giữa các bể là cung cấp hợp chất hữu cơ đến bể anaerobic. Hợp chất từ bể anoxic bao gồm các hợp chất hữu cơ hòa tan (BOD) nhưng hàm lượng nitrat rất ít, tạo điều kiện tốt nhất để lên men kỵ khí trong bể anaerobic. Vào năm 1989, chưa có nhà máy nào tại Mỹ sử dụng quá trình này.


Quy trình VIP (Virginia Initiative Plant in Norfolk. Virginia)


Quy trình này giống A2/O và UCT ngoại trừ cách tuần hoàn hỗn hợp nước thải giữa các bể. Bùn hoạt tính cùng với nước thải sau bể aerobic (đã khử nitrat) được đưa lại bể anoxic. Nước thải từ bể anoxic quay trở lại đầu vào của anaerobic. Trên cơ sở những dữ liệu kiểm tra được, xuất hiện một số hợp chất hữu cơ trong nước thải đầu vào, đảm bảo sự ổn đinh trong hoạt động của bể kỵ khí, làm giảm nhanh chóng lượng oxi theo yêu cầu.

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

CHỈ BIẾT CAM KHỔ!

Đã hơn 10 năm nay người dân ở khu phố Đông Nhì (P.Lái Thiêu, Thị xã Thuận An) phải sống trong cảnh ra ngõ gặp nước thải sinh hoạt. Đường không cống thoát nước nên bất kể nắng mưa, dân phải lội bì bõm trong nước ô nhiễm.

Theo phản ánh của người dân, chúng tôi có mặt tại đây. Mới vào đầu đường số 52, một mùi hôi đặc trưng xộc vào mũi. Đi sâu vào chừng 50m, nước thải chảy lênh láng trên mặt đường. Màu nước đen ngòm, nổi lợn cợn chất nhầy nhầy tanh lợm giọng. Ngã ba đường số 58 và 52 đã trở thành một vũng lầy. “Tình trạng này cũng gần 10 năm nay rồi, hôi hám và bẩn thỉu vô cùng. Ngày nào cũng có người đi xe máy trượt té ở đây. Có nhiều người chấn thương nặng phải chở đi cấp cứu”, chị Trần Thị Mộng Hà (số nhà 40/2 đường số 58) cho biết.

 
Lối thoát nước duy nhất đã bị đổ bê tông bít

“Nắng còn đỡ, mưa xuống là nước ngập ngang gối. Chúng tôi phải nhốt trẻ con trong nhà. Người lớn đi xe bị sụp ổ gà té lên té xuống. Nước chảy trên mặt đường thỉnh thoảng nổi lỏng bỏng cả phân người, khủng khiếp vô cùng. Điều lo ngại nhất là nước tù đọng quanh năm nên muỗi rất nhiều, nguy cơ bùng phát bệnh sốt xuất huyết là rất lớn”, bà Nguyễn Thị Búp (số nhà 6A/3 đường 58) bức xúc.

Theo phản ánh của nhiều người dân, ngập nặng xảy ra từ khi Bệnh viện Đa khoa quốc tế Miền Đông được xây dựng kế bên. “Khu vực xây dựng bệnh viện là vùng trũng. Trước nước thải chảy theo mặt đường và đổ về khu vực này, tuy bẩn chút nhưng không ngập. Khi bệnh viện xây, họ làm hàng rào bít đường thoát nước nên nước ứ lại dâng lên. Chúng tôi  ý kiến thì bên thi công nói phần đất của họ thì họ có quyền xây bít, còn vấn đề thoát nước là của chính quyền. Nếu cứ để tình trạng này, vào mùa mưa nhà tôi sẽ bị ngập sâu trong nước thải”, bà Nguyễn Thị Lan cho biết thêm.

Với những khó khăn và bị đe dọa sức khỏe mà người dân nơi đây đang chịu đựng chỉ mong sao các cơ quan nhah chóng có biện pháp khắc phục, giải phóng cho người dân khỏi "vòng vay nước thải " này.
MXD